^
^
| Lạc giáo của Phanxicô | Lạc giáo trong Vaticanô II | Lạc giáo của Biển Đức XVI | Lạc giáo của Gioan Phaolô II | Từ điển thuật ngữ nguyên tắc | Sự thật về Sơ Lucia giả mạo | Kế hoạch hoá gia đình tự nhiên (NFP) là tội lỗi | Lòng thương xót Chúa của sơ Faustina là giả | Cửa hàng online và thông tin liên lạc |
| Các bước trở lại đạo | Nơi lãnh nhận các bí tích | Kinh Mân Côi | Không có Ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội | Thuyết Trống toà là gì | Thánh lễ Mới không thành sự | Nghi thức truyền chức linh mục mới | E-Exchanges | ![]() |
Sắc lệnh số 122/49 (Suprema haec sacra)
Richard Cushing
Khoảng bốn tháng sau khi cha Leonard Feeney bị Richard Cushing – tổng giám mục bội giáo ở Boston – ra lệnh “im lặng” vào tháng Tư, Thánh Bộ đã ban hành một văn kiện đề ngày 8 tháng 8 năm 1949. Thực chất, đây là một bức thư được gửi cho Giám mục Cushing, do Hồng Y Marchetti‑Selvaggiani ký, thường được biết đến với tên Sắc lệnh số 122/49. Văn kiện này cũng được gọi là Suprema haec sacra hoặc “Thư Marchetti‑Selvaggiani”. Đây là một trong những văn kiện then chốt liên quan tới tình trạng bội giáo thời hiện đại.
Sắc lệnh 122/49 không được công bố trong Acta Apostolicae Sedis (Công báo Tông Tòa), mà là tờ The Pilot, cơ quan truyền thông chính thức của Tổng Giáo phận Boston. Hãy ghi nhớ chi tiết là bức thư này được công bố tại Boston; điểm này sẽ trở nên quan trọng và sáng tỏ hơn trong phần sau: “Phán quyết đã rõ: Boston dẫn đầu trong một vụ tai tiếng hàng linh mục khổng lồ làm rung chuyển toàn nước Mỹ.”
Việc Sắc lệnh 122/49 không xuất hiện trong Công báo Tông Tòa chứng tỏ nó không có tính ràng buộc; nghĩa là, Sắc lệnh 122/49 không phải là một giáo huấn vô ngộ hay buộc phải tin của Giáo hội Công giáo. Sắc lệnh 122/49 cũng không do Giáo hoàng Piô XII ký, mà chỉ mang thẩm quyền của một thư từ giữa hai Hồng Y (Marchetti‑Selvaggiani, người soạn thư, và Hồng Y Ottaviani, người cũng ký tên) gửi cho một vị tổng giám mục địa phương – tức là, về mặt huấn quyền, hoàn toàn không có giá trị bắt buộc. Thực tế, bức thư này đầy dẫy lạc giáo, gian dối, mập mờ và phản bội.
Ngay sau khi Sắc lệnh 122/49 được công bố, tờ The Worcester Telegram đã đăng bài báo với tựa đề:
“VATICAN RA PHÁN QUYẾT CHỐNG LẠI NHÓM BẤT ĐỒNG – [Vatican] Nói rằng việc ‘Không có ơn cứu độ ngoài giáo hội’ là sai.”[1]
Đúng với tựa đề trên, đây là ấn tượng được truyền đi gần như cho toàn thể thế giới Công giáo qua Sắc lệnh 122/49, tức “Thư Marchetti‑Selvaggiani”. Theo cách hiểu phổ biến, Sắc lệnh 122/49 đã xem tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” là sai lầm. Với bức thư định mệnh đó, những kẻ chống lại tín điều và chống lại Giáo hội dường như đã được minh oan, còn những người bênh vực tín điều này dường như đã bị đánh bại.
Tuy nhiên, vấn đề cho những kẻ có vẻ như chiến thắng là: văn kiện này chỉ là một lá thư của hai hồng y lạc giáo trong Thánh Bộ – những người đã sớm tuân theo lạc giáo mà sau này được Vaticanô II tiếp nhận – gửi cho một tổng giám mục bội giáo tại Boston. Có người sẽ ngạc nhiên khi tôi gọi Hồng Y Ottaviani là lạc giáo, vì nhiều người vốn xem ông là khá truyền thống. Nhưng nếu chính chữ ký của ông ta trên Sắc lệnh 122/49 chưa đủ để chứng minh việc lạc giáo, thì hãy lưu ý: ông ta đã ký tất cả các văn kiện trong Vaticanô II và tuân theo cuộc cách mạng hậu Vaticanô II.
Điều đáng lưu ý là ngay cả Đức Ông Joseph Clifford Fenton – chủ bút tạp chí The American Ecclesiastical Review trước thời Vaticanô II, vốn không may lại là người bênh vực Sắc lệnh 122/49 – cũng buộc phải thừa nhận rằng văn kiện này không vô ngộ:
Nói cách khác, theo lập luận của Fenton, nội dung trong Suprema haec sacra không vô ngộ, nên nếu đây là điều đúng đắn, thì điều đó phải tìm được trong các văn kiện huấn quyền trước đó; nhưng thực tế lại không có, như chúng ta sẽ thấy. Fenton đã sai khi cho rằng Suprema haec sacra dù không vô ngộ vẫn mang tính uy quyền. Suprema haec sacra không hề có tính huấn quyền đích thực hay vô ngộ; mà là sai và lạc giáo.
Vì gần như toàn thể quần chúng Công giáo lúc bấy giờ (và cho đến nay) đều có ấn tượng rằng Sắc lệnh 122/49 là giáo huấn chính thức của Giáo hội Công giáo, nên thực chất, văn kiện này đã trở thành một sự phản bội chính Chúa Kitô, giáo lý của Người và Hội Thánh của Người trước thế gian – một sự phản bội bắt buộc phải xảy ra trước khi sự chối đạo phổ quát tại Vaticanô II diễn ra. Qua Sắc lệnh 122/49 và việc bách hại cha Feeney, công chúng có ấn tượng rằng Giáo hội Công giáo nay đã lật đổ một tín điều có từ 20 thế kỷ: tức là, Đức Tin Công giáo tuyệt đối cần thiết cho ơn cứu độ.
Và cho tới ngày nay, nếu ta hỏi hầu như bất kỳ linh mục “Công giáo” nào trên thế giới về tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, câu trả lời thường sẽ được gắn liền – ít nhất là về lập luận – với “vụ án cha Feeney” và Sắc lệnh 122/49, cho dù vị linh mục đó có thể không nhớ rõ tên văn kiện hay ngày tháng. Tôi nói điều này từ kinh nghiệm của mình. Gần như tất cả các linh mục Novus Ordo nào có biết chút gì về vấn đề này đều sẽ dựa vào Sắc lệnh 122/49 và việc cha Feeney “bị lên án” để biện minh cho lập trường lạc giáo, phản Công giáo, phản Kitô, phản Huấn quyền, rằng con người có thể được cứu độ trong những tôn giáo không Công giáo và không cần Đức Tin Công giáo. Đó chính là hoa trái của cái gọi là Sắc lệnh 122/49 khét tiếng này. Cứ xem quả thì biết cây (Mt 7,16).
Giờ đây, chúng ta hãy đọc qua một vài đoạn trích từ văn kiện này:
Ta hãy tạm dừng ở đây. Đến đây, tác giả Sắc lệnh đang chuẩn bị tinh thần cho độc giả để họ đón nhận một điều gì đó khác với “công thức vô ngộ dạy chúng ta rằng ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ.” Tác giả đang từ từ dẫn người đọc đến một cách giải thích cụm từ “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” khác với điều mà chính các lời ấy tự chúng khẳng định và tuyên bố.
Nếu tác giả không muốn hướng người đọc chấp nhận một lối hiểu khác với chính lời văn của tín điều, thì ông ta đã chỉ việc viết đơn giản: “Tín điều này phải được hiểu đúng như Giáo hội đã định tín, y như các lời văn đã tuyên bố.” Nhưng ông ta đã không làm như vậy.
Hãy so sánh nỗ lực “giải thích” tín điều trong Sắc lệnh 122/49 với cách Giáo hoàng Grêgôriô XVI trình bày chính cùng một vấn đề trong thông điệp Summo Iugiter Studio.
Giáo hoàng Grêgôriô XVI không nói kiểu như: “Tuy nhiên, tín điều này phải được hiểu theo nghĩa mà chính Giáo hội hiểu,” như Sắc lệnh 122/49 lạc giáo viết. Ông trực tiếp khẳng định rằng: ĐÂY QUẢ THẬT LÀ GIÁO HUẤN CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO. Xuyên suốt cả thông điệp, Đức Grêgôriô XVI không ngừng lặp lại ý nghĩa chân thực và sát nghĩa đen của công thức “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, không kèm theo bất cứ điều kiện phụ, ngoại lệ hay giảm nhẹ nào, đúng như tín điều đã được định tín.
Cha Feeney và các cộng sự của ông trong việc bênh vực tín điều chỉ đơn giản là lặp lại chính xác những gì Giáo hoàng Grêgôriô XVI dạy như trên. Ta không cần phải là một thiên tài để thấy rõ: nếu Sắc lệnh 122/49 được soạn ra để “sửa sai” cách hiểu của cha Feeney về tín điều này (mà quả thực nó là vậy), thì điều đó cũng có nghĩa là Sắc lệnh 122/49 đang “sửa sai” luôn cả cách hiểu của Giáo hoàng Grêgôriô XVI và của tất cả các bản tuyên tín vô ngộ về đề tài này trong suốt 20 thế kỷ.
Hơn nữa, hãy để ý: Giáo hoàng Grêgôriô XVI trực tiếp đề cập đến định nghĩa mang tính tín lý của Công đồng Latêranô IV, nhằm củng cố lập trường của ông và để xác nhận cách hiểu sát nghĩa đen của công thức “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”. Trái lại, trong toàn bộ văn bản, Sắc lệnh 122/49 không hề trích dẫn một bản định nghĩa tín lý nào về đề tài này. Bởi vì Đức Grêgôriô XVI, như một người Công giáo chân chính, hiểu rằng: cách hiểu duy nhất hợp lệ về một tín điều là đúng như Giáo hội Mẹ đã từng công bố; còn các tác giả Sắc lệnh, vốn là lạc giáo, thì không tin rằng một tín điều phải được hiểu chính xác như đã được tuyên bố. Đó là lý do tại sao Đức Grêgôriô trích dẫn nguyên văn điều mà Giáo hội Mẹ đã từng định tín, còn các tác giả Sắc lệnh trên thì lại không hề làm như vậy.
Nếu ý nghĩa của tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” chưa được làm sáng tỏ từ Huấn quyền từ Tòa Thánh Phêrô (tức các định tín vô ngộ về đề tài này), thì chắc chắn một bức thư năm 1949 của Hồng Y Marchetti‑Selvaggiani lại càng không thể! Và nếu vào thời điểm được định tín – cũng như vào thời Đức Grêgôriô XVI – không hề có chuyện chấp nhận những “ngoại lệ” hay “điều kiện giảm trừ”, thì những “ngoại lệ” như thế càng không được phép len vào trong cách hiểu tín điều về sau (thí dụ năm 1949), bởi vì tín điều này đã được minh định và giảng dạy từ lâu trước đó rồi.
Việc “khám phá” ra một cách hiểu mới cho tín điều này vào năm 1949 thực chất là phủ nhận chính cách hiểu của tín điều trên như đã được minh định. Sắc lệnh 122/49 đang đề ra một tín điều khác. Chúng ta hãy tiếp tục đọc Sắc lệnh.
Tại đây, Sắc lệnh bắt đầu đi vào cách giải thích mới về tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, nhưng theo một cách hết sức gian trá và tinh vi. Sự lắc léo nằm ở chỗ: câu trên, theo xác nghĩa, là chính xác – không ai, đã biết rõ Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập cách thiêng liêng mà vẫn cố tình không quy phục Hội Thánh và không vâng phục Đức Giáo hoàng, lại có thể được cứu độ.
Nhưng đồng thời, tất cả những ai đọc văn kiện này đều được tạo ấn tượng rất rõ ràng qua cách diễn đạt: rằng một số người, tuy không quy phục Hội Thánh và không vâng phục Đức Giáo hoàng, nhưng vô tình, hay không biết, thì vẫn có thể được cứu độ. Đây chính là lạc giáo; và sẽ khiến việc giảng cho người khác biết rằng Giáo hội thật sự được Thiên Chúa thiết lập trở nên phản tác dụng!
Hãy so sánh tín điều của Giáo Công giáo với “phần thêm vào” mà Sắc lệnh 122/49 gán cho tín điều này.
Tín điều:
PHẦN THÊM VÀO CỦA SẮC LỆNH 122/49:
Độc giả có thể dễ dàng nhận ra rằng ý nghĩa ẩn của Sắc lệnh 122/49 đã lìa xa cách hiểu tín điều mà Giáo hội Mẹ đã từng tuyên bố. Không ai có thể thành thật phủ nhận điều này. Tín điều về sự cần thiết phải tùng phục Đức Giáo hoàng Rôma để được cứu độ – từ chỗ được áp dụng cho toàn thể nhân loại (Đức Bonifaciô VIII) – đã bị thu hẹp lại chỉ còn áp dụng cho “những ai biết Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập cách thiêng liêng” (Sắc lệnh 122/49). Một lần nữa, nókhiến việc rao giảng cho người ta biết rằng Hội Thánh là do Thiên Chúa thiết lập trở thành điều ngu ngốc. Tôi tiếp tục với Sắc lệnh:
Ở đây chúng ta lại thấy một lần nữa: tín điều, như đã được minh định, lại bị phủ nhận, và cách hiểu tín điều mà Giáo hội Mẹ từng tuyên bố, bị rời bỏ. Hãy so sánh định tín mang tính tín lý sau đây của Giáo hoàng Eugêniô IV với những đoạn trích trên của Sắc lệnh 122/49, nhất là ở những điểm mấu chốt.
Ta thấy rất rõ: Sắc lệnh 122/49 (trích trên) phủ nhận sự cần thiết phải thực sự được nhập vào “thân thể Giáo hội” (ecclesiastici corporis). Đây là lạc giáo!
Theo định tín của Giáo hoàng Eugêniô IV, ta phải ở “trong lòng và trong sự hiệp nhất với Giáo hội”; còn Sắc lệnh 122/49 lại nói rằng “không bắt buộc người ấy phải thực sự gia nhập Hội Thánh như một phần tử”. Như thế, tín điều về việc PHẢI ĐƯỢC SÁP NHẬP và thật sự ở trong thân thể Hội Thánh (ecclesiastici corporis) đã bị phủ nhận. Đây là lạc giáo!
Sắc lệnh 122/49 hoàn toàn mâu thuẫn với giáo huấn của các Giáo hoàng Eugêniô IV và Bônifaciô VIII. Chấp nhận, tin theo hoặc ủng hộ Sắc lệnh ấy là hành động đi ngược lại những lời định tín trên.
Tôi tiếp tục với Sắc lệnh:
Ở đây, lạc giáo đã lộ diện một cách hết sức trắng trợn. Những người không có Đức Tin Công giáo – những người đang ở trong tình trạng “vô tri bất khả triệt” – cũng được xem là “hiệp nhất” với Hội Thánh nhờ một “lòng ước ao tiềm tàng”, miễn là “muốn cho ý riêng mình được phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.”
Và cần nhớ rằng Sắc lệnh 122/49 được soạn ra để phản bác với lập trường của cha Feeney: tất cả những ai chết trong tình trạng không phải là người Công giáo đều bị hư mất. Nghĩa là, Sắc lệnh này được viết ra để phân biệt – và đối lập – với lời tuyên xưng của cha Feeney rằng tất cả những ai chết mà không là người Công giáo đều hư mất. Điều đó cho thấy Sắc lệnh đang chủ tâm dạy rằng: những người chết trong tình trạng không phải là người Công giáo, và trong các tôn giáo sai lạc, vẫn có thể được cứu.
Như vậy, đoạn trên trong Sắc lệnh rõ ràng dạy lạc giáo rằng con người có thể được cứu trong bất cứ tôn giáo nào, hoặc ngay cả không theo tôn giáo nào, miễn là vẫn giữ đạo đức.
Hãy so sánh đoạn văn vừa trích từ Sắc lệnh 122/49 với các định tín sau đây.
TÍN ĐIỀU:
Tôi tiếp tục với Sắc lệnh.
Khi tìm cách đưa ra một sự giải thích sai lạc về thông điệp Mystici Corporis của Giáo hoàng Piô XII, Suprema haec sacra đã dạy rằng những người “không thuộc” về Thân Thể hữu hình của Hội Thánh cũng có thể được cứu độ. Điều đáng chú ý nơi đoạn văn sai lạc này trong Nghị định 122/49 là: ngay cả Đức Ông Fenton (một trong những người bênh vực văn kiện này mạnh mẽ nhất) cũng phải thừa nhận rằng ta không thể nói “Linh Hồn Hội Thánh” lại bao trùm rộng hơn “Thân Thể Hội Thánh”.
Do đó, nói rằng ta không cần phải thuộc về Thân Thể Hội Thánh – như Suprema haec sacra đã viết – thực chất là nói rằng ta không cần phải thuộc về chính Hội Thánh. Như vậy, qua tuyên bố vừa trích, Nghị định 122/49 đã dạy lạc giáo rằng ta không cần phải thuộc về Hội Thánh Công Giáo mà vẫn được cứu độ, tức là điều đã bị chính Giáo hoàng Piô XII lên án.
Điều này hết sức quan trọng, vì nó cho thấy rõ rằng giáo huấn trong Suprema haec sacra – và do đó, lời của Đức Ông Joseph Clifford Fenton, người đã ra sức bênh vực văn kiện này – là lạc giáo. Cả hai đều phủ nhận sự cần thiết phải “thuộc về” Hội Thánh chân thật để được ơn cứu độ đời đời.
Chưa đầy ba tháng sau khi lá thư của Hồng y Marchetti-Selvaggiani được đăng một phần trên tờ The Pilot, Cha Feeney đã bị trục xuất khỏi Dòng Tên, vào ngày 28 tháng 10 năm 1949. Cha Feeney vẫn kiên cường trước áp lực của những kẻ lạc giáo, muốn bẻ gãy ông và buộc ông phải chấp nhận quan điểm lạc giáo cho rằng người không Công Giáo cũng có thể được cứu độ. Nhắc đến lá thư đề ngày 8 tháng 8 của Hồng y Marchetti-Selvaggiani (Nghị định 122/49), Cha Feeney đã nhận định rất xác đáng rằng: “có thể xem nó như đã thiết lập một chính sách hai mặt để gieo rắc sai lầm.”
Thực tế, việc Cha Feeney bị trục xuất khỏi Dòng Tên là hoàn toàn vô hiệu. Những kẻ đã trục xuất ông và chống đốiông, trên thực tế, tự mình bị loại ra khỏi Giáo hội Công giáo, vì họ chủ trương lạc giáo cho rằng những ai chết ngoài Hội Thánh, như những người không phải là Công Giáo, vẫn có thể được cứu rỗi. Tình trạng này tương tự như hoàn cảnh thế kỷ V, khi Thượng Phụ Constantinopolis là Nestôriô bắt đầu rao giảng lạc giáo rằng Đức Maria không phải là Mẹ Thiên Chúa. Các tín hữu đã phản ứng mạnh mẽ, tố giác Nestôriô là kẻ lạc giáo và tuyên bố ông là người ở ngoài Hội Thánh Công giáo. Sau đó, Nestôriô bị Công Đồng Êphêsô năm 431 lên án. Sau đây là lời tuyên bố của Giáo hoàng Thánh Cêlestinô I về những người bị Nestôriô tuyệt thông sau khi ông ta bắt đầu rao giảng lạc giáo:
Thánh Giáo hoàng Cêlestinô đã xác nhận một cách có thẩm quyền nguyên tắc này: một kẻ công khai rơi vào lạc giáo thì không còn bất cứ thẩm quyền nào để cách chức, tuyệt thông hay trục xuất người khác. Trích đoạn trên được thánh Rôbertô Bellarminô ghi lại trong De Romano Pontifice. Điều đó cho thấy tất cả những biện pháp hãm hại nhắm vào Cha Feeney (trục xuất, vạ cấm, v.v.) đều không có giá trị thực sự, vì ông đã đứng về phía chân lý, còn những kẻ chống đối thì sai. Ông bảo vệ tín điều “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, trong khi những kẻ thùbênh vực lạc giáo cho rằng “ngoài Giáo hội vẫn có ơn cứu độ.”
Tình hình căng thẳng giữa Cha Feeney và những kẻ lạc giáo tại Boston vẫn không thay đổi cho đến ngày 14 tháng 9năm 1952. Vào thời điểm này, Richard Cushing, “Tổng Giám Mục” Boston, đã yêu cầu Cha Feeney phải rút lại “lối giải thích” của ông về tín điều – nghĩa là phải rút lại chính tín điều – và phải trực tiếp tuyên xưng sự vâng phục đối với lá thư của Marchetti-Selvaggiani (Nghị định 122/49). Với bốn nhân chứng hiện diện, Cha Feeney đến gặp Cushing. Ông nói với Cushing rằng ông chỉ có một chọn lựa duy nhất là tuyên bố lá thư của Marchetti-Selvaggiani là “hoàn toàn là gương xấu và tai tiếng, vì thật sự mà nói là lạc giáo.” Đây cũng hẳn là điều Giáo hoàng Grêgôriô XVI sẽ nói về Nghị định khủng khiếp trên, và cũng là điều bất cứ người Công Giáo chân chính nào phải nói.
Trong buổi gặp gỡ, Cha Feeney hỏi “Tổng Giám Mục” Cushing xem ông ta có đồng ý với lá thư đề ngày 8 tháng 8năm 1949 của Marchetti-Selvaggiani hay không. Cushing trả lời: “Tôi không phải là nhà thần học. Tất cả những gì tôi biết là điều người ta nói với tôi.” Câu trả lời lấp lửng và tránh né ấy đã phơi bày bộ mặt thật của Cushing: một kẻ lạc giáo, một chủ chăn giả và là kẻ thù của Chúa Giêsu. Nếu Cushing thực sự tin rằng ta buộc phải tuân theo lá thư đó, thì ông phải trả lời không do dự rằng ông hoàn toàn đồng ý với nội dung bức thư. Thế nhưng vì không muốn bảo vệ lá thư trong các điểm chi tiết, đặc biệt là những chỗ phủ nhận tín điều, nên ông ta đã né tránh câu hỏi. Sự né tránh ấy đã khiến Cha Feeney không thể dồn ông vào thế phải đối diện trực tiếp với tín điều đang bị chối bỏ. Cha Feeney tố cáo Cushing đã không chu toàn bổn phận của mình, rồi ra về.
Chú thích:
[1] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 21.
[2] Msgr. Joseph Clifford Fenton, The Catholic Church and Salvation, p. 103
[3] The Official English Translation of Protocol 122/49, quoted by Fr. Jean-Marc Rulleau, Baptism of Desire, p. 69.
[4] The Papal Encyclicals, Vol. 1 (1740-1878), pp. 229-230.
[5] Denzinger 1800.
[6] The Official English Translation of Protocol 122/49, quoted by Fr. Jean-Marc Rulleau, Baptism of Desire, p. 70.
[7] Denzinger 468-469.
[8] The Official English Translation of Protocol 122/49, quoted by Fr. Jean-Marc Rulleau, Baptism of Desire, p. 70.
[9] The Official English Translation of Protocol 122/49, quoted by Fr. Jean-Marc Rulleau, Baptism of Desire, p. 70.
[10] Denzinger 714; Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 578.
[11] The Official English Translation of Protocol 122/49, quoted by Fr. Jean-Marc Rulleau, Baptism of Desire, p. 71.
[12] Fr. Michael Muller, C.SS.R., The Catholic Dogma, pp. 217-218.
[13] Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 551.
[14] Denzinger 1000.
[15] Denzinger 1473.
[16] Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 2, p. 803.
[17] Quoted and translated by Msgr. Fenton, The Catholic Church and Salvation, p. 102.
[18] The Papal Encyclicals, Vol. 4 (1939-1958), p. 179; Denzinger 2319.
[19] Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 646.
[20] Quoted by St. Robert Bellarmine, De Romano Pontifice, II, 30.
Bài Viết Liên Quan