^
^
| Lạc giáo của Phanxicô | Lạc giáo trong Vaticanô II | Lạc giáo của Biển Đức XVI | Lạc giáo của Gioan Phaolô II | Từ điển thuật ngữ nguyên tắc | Sự thật về Sơ Lucia giả mạo | Kế hoạch hoá gia đình tự nhiên (NFP) là tội lỗi | Lòng thương xót Chúa của sơ Faustina là giả | Cửa hàng online và thông tin liên lạc |
| Các bước trở lại đạo | Nơi lãnh nhận các bí tích | Kinh Mân Côi | Không có Ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội | Thuyết Trống toà là gì | Thánh lễ Mới không thành sự | Nghi thức truyền chức linh mục mới | E-Exchanges | ![]() |
Giáo hoàng Piô XII, Cha Feeney, và tín điều về ơn cứu độ
Một trong những lý do khiến bản Sắc lệnh 122/49 lạc giáo và nguy hại này lại có thể lan tràn mạnh mẽ trong tâm trí của rất nhiều giám mục và linh mục, đến nỗi hầu như quét sạch niềm tin vào tín điều về ơn cứu độ trên gần như toàn thể thế giới Công Giáo, là vì người ta tưởng rằng văn bản đó ít nhất là đã được Giáo hoàng Piô XII chấp thuận ngầm. Chính bản văn ấy còn tuyên bố rằng ông đã chấp thuận. Nhưng sự thật là: ông không hề ký, cũng không hề ban hành nó theo một hình thức nào có liên hệ đến quyền bất khả ngộ. Nó thậm chí còn không được công bố theo cách chính thức. Và dĩ nhiên, không một vị giáo hoàng nào lại có thể ký một Sắc lệnh như thế, vì như tôi đã chứng minh, nội dung của nó thật sự là lạc giáo.
Nếu giả như Giáo hoàng Piô XII đã đồng tình với Sắc lệnh ấy và với việc bách hại Cha Leonard Feeney chỉ vì ông giảng tín điều về ơn cứu độ, thì ông ấy sẽ chỉ đơn giản là một người phạm tội nghiêm trọng chống lại đức tin. Nếu ông công khai đứng về phía Sắc lệnh và chống lại Cha Feeney, thì ông đã rơi vào lạc giáo. Nếu Giáo hoàng Piô XII phủ nhận tín điều – như các linh mục tại Đại học Boston đã làm, chẳng hạn – và tán thành việc bịt miệng Cha Feeney, không cho ông truyền dạy về tín điều này, thì Giáo hoàng Piô XII đã trở thành một kẻ lạc giáo và là kẻ thù của đức tin.
Nếu Giáo hoàng Piô XII cho rằng Cha Feeney tự ý bày ra giáo lý riêng của mình, trong khi ông chỉ lặp lại đúng những gì Giáo hoàng Grêgôriô XVI đã long trọng tuyên bố trong thông điệp Summo Iugiter Studio, và đúng những gì Tông Tòa Thánh Phêrô đã định tín (rằng hết thảy những ai lìa đời trong tình trạng không Công Giáo thì đều hư mất), thì điều đó có nghĩa là ông đã không hiểu chút gì về Đức Tin Công Giáo – và thực ra, ông không sở hữu đức tin ấy.
Độc giả cần ghi nhớ rằng không phải mọi quyết định của một vị giáo hoàng đều bất khả ngộ. Khi nghiên cứu các sai lầm của các giáo hoàng trong lịch sử để chuẩn bị cho việc tuyên bố tín điều “quyền giáo hoàng bất khả ngộ”, các thần học gia tại Vaticanô I đã nhận thấy có hơn bốn mươi vị giáo hoàng từng có những quan điểm thần học sai lầm. Nhưng không một sai lầm nào trong số đó được các ngài dạy từ Tòa Thánh Phêrô. Trong một trường hợp sai lầm rất nổi tiếng, Giáo hoàng Gioan XXII đã chủ trương rằng: những người công chính thời Cựu Ước không được hưởng vinh phúc trực quan cho đến sau Ngày Phán Xét Chung.[1]
Có lẽ trường hợp sai lầm của một vị giáo hoàng rõ ràng nhất trong lịch sử Giáo hội là “Công đồng xác chết” năm 897. Đó là lần mà thi hài Giáo hoàng Formosus – theo mọi chứng từ đều là một vị giáo hoàng thánh thiện và tận tụy – bị Giáo hoàng Stêphanô VII đem ra xét xử và lên án sau khi ông đã qua đời, với một loạt cáo buộc là đã vi phạm luật Giáo hội.[2]
Việc kết án Giáo hoàng Formosus bởi Giáo hoàng Stêphanô VII sau đó bị các Giáo hoàng Theodore II và Gioan IX hủy bỏ, nhưng lại được Giáo hoàng Sergiô III tán thành.[3] Chỉ riêng sự kiện này cũng đã đủ cho ta thấy rất rõ: không phải mọi quyết định, mọi bài diễn văn, mọi ý kiến hay phán đoán riêng của một giáo hoàng đều bất khả ngộ. Một vị giáo hoàng chỉ bất khả ngộ khi ông tuyên bố từ Tòa Thánh Phêrô, hoặc khi ông lập lại điều mà Giáo hội vẫn luôn dạy trong Huấn Quyền thông thường và phổ quát.
Giáo hoàng Hônôriô I đã bị Công đồng Constantinopolis III kết án, ít là vì đã tiếp tay làm cho lạc giáo “Nhất ý thuyết” (chủ trương Chúa Kitô chỉ có một ý chí) được lan rộng, qua hai bức thư gửi cho Thượng Phụ Sergiô. Cũng như Giáo hoàng Hônôriô I (625–638) đã bị Công Đồng Constantinopolis III và các Công đồng đại kết khác lên án vì đã tiếp tay cho lạc giáo[4], thì tương tự, Giáo hoàng Piô XII cũng sẽ mắc vào lạc giáo nếu ông cho rằng người ngoài Công Giáo có thể được cứu rỗi, và ủng hộ việc bách hại Cha Leonard Feeney chỉ vì ông tuyên bố rằng họ không thể được cứu.
Cần nhớ rằng Giáo hoàng Piô XII hoàn toàn không phải là một người truyền thống triệt để. Những việc cải tổ và những thiếu sót của ông đã mở đường cho Vaticanô II. Sau đây là một vài điều Giáo hoàng Piô XII đã làm:
Việc sau cùng chính là nghiêm trọng nhất. Với việc hãm hại Cha Feeney, “giới hữu trách” ở Boston và tại Rôma không những đã không trợ giúp ông trong nỗ lực hoán cải những người ngoài Công Giáo, mà còn thực sự đang ngăn chặn ông nữa! Hãy ngẫm nghĩ về điều đó: những người lẽ ra phải ủng hộ ơn cứu rỗi các linh hồn và việc trở lại với Đức Tin chân thật, thì lại tìm mọi cách làm cho công việc của Cha Feeney trở nên khó khăn nhất có thể. Họ đã làm cho việc loan báo thông điệp cứu độ của Chúa Kitô – rằng ơn cứu rỗi chỉ đến nhờ thuộc về Hội Thánh Người đã thiết lập – trở nên khó khăn nhất có thể; đồng thời lại trao cho hàng triệu người không Công Giáo một ảo tưởng sai lầm rằng họ vẫn “ổn”, khi đang sống trong chính tình trạng bị kết án đời đời. Richard Cushing, tổng giám mục chối đạo ở Boston, người đầu tiên đã ra lệnh Cha Feeney im tiếng – không phải vì vấn đề “phép Rửa bằng ước muốn”, mà vì tín điều extra Ecclesiam nulla salus (ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ) – đã khoe khoang trước khi chết rằng suốt đời mình ông chưa từng hoán cải một ai.[5]
Ngày 24 tháng 9 năm 1952, Cha Feeney gửi cho Giáo hoàng Piô XII một bức thư dài và rất chi tiết. Bức thư ấy đã không được hồi đáp. Nhưng một tháng sau, trong lá thư đề ngày 25 tháng 10 năm 1952, Hồng y Pizzardo thuộc Thánh Bộ triệu tập ông đến Rôma. Ngày 30 tháng 10 năm 1952, Cha Feeney trả lời Hồng u Pizzardo, xin được cho biết rõ các cáo trạng đối với ông – như Giáo luật yêu cầu. Ngày 22 tháng 11 năm 1952, Hồng y Pizzardo hồi đáp:
Ngày 2 tháng 12 năm 1952, Cha Feeney đáp lại:
Trao đổi thư từ giữa Cha Feeney và Hồng y Pizzardo là một chi tiết rất đáng chú ý và có giá trị cho vấn đề chúng ta đang bàn. Trước hết, nó cho thấy Cha Feeney thực sự muốn hành động trong khuôn khổ luật lệ của Giáo hội, trong khi Pizzardo và những kẻ ở Vatican lại tỏ ra coi thường luật lệ một cách trắng trợn, ngay cả trong việc triệu tập ông đến Rôma. Giáo Luật quy định rằng người bị triệu tập đến Rôma phải được thông báo ít nhất là cách tổng quát về những cáo buộc chống lại mình, và Cha Feeney đã trích dẫn chính xác các điều khoản liên quan. Pizzardo và những cộng sự của ông thì liên tục phớt lờ những quy định này.
Ngày 9 tháng 1 năm 1953, Hồng y Pizzardo trả lời lá thư ngày 2 tháng 12 năm 1952 của Cha Feeney:
Một lần nữa, các điều khoản của Giáo Luật đòi hỏi phải có lý do cho việc triệu tập đã hoàn toàn bị bỏ qua. Nhưng với trường hợp của Cha Feeney thì đây là việc rất thông thường: công lý, tín điều và chính lệnh truyền của Chúa Kitô về việc rao giảng Tin Mừng và ban phép Rửa đều bị làm ngơ và chà đạp. Ta không thể không nhận ra giọng điệu bực bội khó chịu trong lá thư của vị hồng y. Hầu như chắc chắn rằng Pizzardo cũng tin rằng người ngoài Công Giáo có thể được cứu rỗi như cách họ đang sống, và vì thế ông chẳng bận tâm gì đến việc vụ án của Cha Feeney đang bị xử lý theo cách bất công.
Vì không hề được thông báo lý do bị triệu tập về Rôma như Giáo luật yêu cầu, Cha Feeney đã chính đáng ở lại Hoa Kỳ, dù biết rõ việc từ chối không trình diện Rôma trước ngày 31 tháng 1 có thể khiến mình phải gánh chịu những chế tài giáo luật bịa đặt. Nhưng trước đó, ngày 13 tháng 1 năm 1953, Cha Feeney đã “gửi cho vị Hồng y một bức thư dài và mạnh mẽ để phản đối những điều sau đây:
Cha Feeney kết thúc bức thư sau cùng gửi Hồng y Pizzardo với một lời bày tỏ sự phẫn nộ chính đáng:
Ngày 13 tháng 2 năm 1953, Thánh Bộ ban hành một sắc lệnh tuyên bố Cha Feeney “bị vạ tuyệt thông”. Sắc lệnh viết như sau:
Xét dưới ánh sáng các dữ kiện vừa nêu, vạ tuyệt thông này thực là một điều tệ hại và vô giá trị. Cha Feeney hoàn toàn vô tội: ông không phủ nhân tín điều nào, và luôn hành động tuyệt đối theo đúng Giáo luật. Chính những kẻ hãm hại Cha Feeney vì ông dạy rằng những ai lìa đời như người ngoài Công Giáo thì không thể được cứu, mới là những người đã tự mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
Cũng cần phải ghi nhớ rằng, tuy “vạ tuyệt thông” này phát xuất từ những kẻ lạc giáo chống đối việc Cha Feeney rao giảng tín điều, nhưng chính văn bản “tuyệt thông” này lại không hề đề cập gì tới vấn đề giáo lý. Nó chỉ nói đến “tội bất tuân nặng nề đối với Giáo Quyền.” Đây là một điểm hết sức quan trọng, vì ngày nay ta thường nghe nhiều người – do không nắm rõ vụ việc – đã tuyên bố sai lầm rằng Cha Feeney chịu vạ tuyệt thông vì dạy rằng người ngoài Công Giáo không thể được cứu rỗi. Những người như vậy thực sự không biết họ đang nói gì.
Không nghi ngờ gì: chính tín điều về ơn cứu độ là lý do bùng nổ vụ việc về Cha Feeney, và sau cùng dẫn đến việc ông bị tuyên bố “tuyệt thông”. Nhưng chính bản án tuyệt thông ấy hoàn toàn không đề cập gì về giáo lý. Do đó, ngay cả nếu ai đó cho rằng “vạ tuyệt thông” này là hữu hiệu (mà là lố bịch), thì nó cũng tuyệt đối không thể được dùng như một lý lẽ chống lại giáo huấn về vấn đề ơn cứu độ, vì: 1) Trong bản án tuyệt thông, không hề có nhắc đến vấn đề giáo lý; và 2) Giáo huấn này là một tín điều đã được Giáo hội định tín. Như vậy, những ai muốn bàn luận vấn đề này thì trước hết phải hiểu rõ sự việc.
Tuy nhiên, với “vạ tuyệt thông” năm 1953 dành cho Cha Leonard Feeney, S.J., giáo huấn “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” đã bị loại trừ ra khỏi tâm trí quần chúng. Qua biến cố ấy, Chúa Giêsu đã bị công khai phản bội cho thế gian: toàn thế giới được gieo ấn tượng rằng họ không cần phải thuộc về Hội Thánh duy nhất Người đã thiết lập – và trái lại, ai bênh vực điều ngược lại thì lại bị trừng phạt!
Gần đây, tôi đã gọi điện đến khoảng 15 giáo xứ Vaticanô II/Novus Ordo và hỏi liệu họ có chấp nhận tín điều Công giáo “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ” hay không. Tất cả đều thẳng thừng bác bỏ, hoặc cúp máy. Vài linh mục hiếm hoi trả lời câu hỏi của tôi về tín điều này thì lập tức nói những câu như: “Đó là lạc giáo,” hoặc những lời tương tự (tức tín điều không có ơn cứu độ ngoài Giáo hội là lạc giáo); và tất cả đều viện dẫn “vạ tuyệt thông” của Cha Leonard Feeney, S.J. để “chứng minh” lập trường của họ.
Tôi có thể gọi thêm 200 giáo xứ Vaticanô II nữa và cũng sẽ nhận được cùng một loại câu trả lời. Sự thật đơn giản là: gần như mọi linh mục Vaticanô II/Novus Ordo, cũng như hầu hết các linh mục “truyền thống” ngày nay, đều tin rằng các linh hồn có thể được cứu rỗi trong bất cứ tôn giáo nào, kể cả những người Do Thái cố ý từ chối Chúa Kitô.
Không nghi ngờ gì, Giáo hoàng Piô XII đã đóng vai trò then chốt trong vụ án Cha Leonard Feeney: then chốt đối với chính cốt lõi Đức Tin Công giáo, then chốt đối với những gì sắp sửa diễn ra tại Vaticanô II, và then chốt đối với ơn cứu rỗi của hàng triệu linh hồn. Nó mang tính quyết định vì nếu trong những năm đầu thập niên 1950, Giáo hoàng Piô XII đã đứng ra bênh vực Cha Feeney và long trọng tái khẳng định rằng tất cả những ai lìa đời trong tình trạng không phải là người Công Giáo đều hư mất (và do đó cần phải được hoán cải), thì đã chẳng bao giờ có Vaticanô II. Đúng vậy. Công Đồng Vaticanô II bội giáo ấy đã không thể xuất hiện được nếu chỉ trước đó không có việc lên án tín điều này (bằng cách kết án Cha Feeney).
Những ai bác bỏ thực tế này là những người biết gì về thực tại. Hơn 90% các lạc giáo trong Vaticanô II và thời hậu Vaticanô II đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc phủ nhận tính tuyệt đối cần thiết của Giáo hội Công giáo, và phủ nhận sự xấu xa của các tôn giáo không Công Giáo. Nếu trong thập niên 1950 đã có một tuyên tín trọng thể và công khai về tín điều này do chính Giáo hoàng Piô XII ban ra – theo như Cha Feeney đã mong muốn – đến độ ai ai cũng thấy rõ là Cha Feeney hoàn toàn đúng khi dạy rằng người ngoài Công Giáo không thể được cứu rỗi theo cách họ đang sống, thì những kẻ lạc giáo tại Vaticanô II đã không thể nào ngang nhiên thông qua được Sắc lệnh về đại kết (Unitatis Redintegratio), Tuyên ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô Giáo (Nostra Aetate), Tuyên ngôn về tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae), v.v., những văn kiện đều hoặc ca tụng và đề cao các tôn giáo giả dối, hoặc khẳng định rằng các tín đồ của những tôn giáo này cũng có thể được cứu rỗi.
Nếu không có những tín hiệu rõ ràng, cho thấy việc tin rằng tất cả những ai chết bên ngoài Giáo hội đều hư mất là sai (trong khi đây lại là tín điều Công Giáo), thì Vaticanô II, cuộc cải tổ phụng vụ, và tất cả những thứ khủng khiếp mà chúng ta chứng kiến ngày nay đã không thể được thực hiện.
Đáng buồn thay, chính Giáo hoàng Piô XII lại là người thực hiện điều đó. Ông là vị giáo hoàng mà dưới triều đại của mình, thế giới bắt đầu tin rằng thật là sai nếu cho rằng chỉ người Công Giáo mới có thể được cứu độ. Ông ấy đã, dù biết hay không biết, đóng vai như một Giuđa nộp Đức Kitô cho người Do Thái để họ đóng đinh Người. Tín điều ấy đã bị đem bán cho thế gian, để Quỷ dữ có thể đóng đinh toàn bộ cơ cấu Đức Tin tại Vaticanô II.
Khi ta nhìn thấy các nhà thờ hoang vắng; tòa giải tội trống trơn; hầu như không còn ai đi dự Thánh lễ; hàng ngũ linh mục Novus Ordo đầy những kẻ đồng tính; chưa tới 25% còn tin vào sự hiện diện thật của Thiên Chúa trong Thánh Thể; các vụ bê bối tình dục lan tràn; những “thánh lễ” hề, thánh lễ thiếu nhi, thánh lễ bóng bay; 50% những người “Công giáo” đi bỏ phiếu ủng hộ phá thai; tình trạng pha trộn tôn giáo hỗn loạn xảy ra thường xuyên ngay tại Vatican; phụ nữ để trần trong “Thánh Lễ Giáo hoàng”; thầy phù thủy voodoo giảng dạy trong nhà thờ Thánh Phanxicô; tượng Phật đặt trên “bàn thờ Công giáo”; gần như cả một sự thiếu hiểu biết phổ biến về giáo huấn của Giáo hội; gần như cả một sự suy đồi luân lý và đồi bại chung; “giáo dục giới tính” trong các trường “Công giáo”; các đại học “Công giáo” phủ nhận tính vô ngộ của Thánh Kinh; các đại học “Công Giáo” cổ vũ những kẻ ủng hộ phá thai; sự chối đạo phổ quát và trầm trọng nhất trong lịch sử đối với giáo huấn của Chúa Kitô; và một thứ ngoại giáo hầu như phổ quát khắp nơi –thì ta phải “cảm ơn” việc kết án Cha Feeney, mà là một yếu tố cần thiết để mở đường cho tất cả những điều ấy.
Việc “lên án” Cha Feeney – cộng với Sắc lệnh 122/49 – đã bảo đảm rằng, từ sau năm 1953, không một chủng viện nào trên thế giới còn dạy tín điều chỉ người Công Giáo mới được cứu rỗi. Và khi ý nghĩ những ai chết bên ngoài đức tin Công giáo vẫn có thể được cứu đã ăn sâu và trở nên gần như phổ quát, thì chỉ ít lâu sau, thế giới bắt đầu hiểu ra rằng: tin theo đức tin Công giáo và giữ luân lý Công giáo cũng chẳng có ích gì, vì người các tôn giáo khác cũng được cứu vậy. Món quà vô giá là Đức Tin chân thật bị hư hoại; và tuyên bố của Giáo hội Công giáo rằng đây là tôn giáo duy nhất chân thật đã bị “giết chết” trong tâm trí đám đông, vì người trong các tôn giáo khác cũng có thể được cứu. Thật hợp lý là chẳng bao lâu sau “vạ tuyệt thông” Cha Feeney, giáo huấn Công Giáo đã bị nhường chỗ cho một sự bội giáo hầu như toàn diện trong lòng người Công Giáo – với Vaticanô II là phương tiện cho điều đó.
Những ai lên án, than phiền, hoặc ghê tởm một phần hay hầu như tất cả những hiện tượng vừa kể trên, trong khi đồng thời lại kết án, khinh bỉ hay thù ghét Cha Feeney, là những kẻ mù lòa. Họ than phiền về khói lửa, nhưng không nhận ra chính thái độ của họ là điều đã châm ngòi cho đám cháy. Họ không hiểu được những hệ quả tất yếu của việc làm sụp đổ Đức Tin, và chối bỏ tín điều then chốt nhất: chỉ người Công Giáo mới được cứu rỗi.
Việc phủ nhận tín điều trên không chỉ liên quan tới những hệ quả thực tiễn. Trên hết, nó kết nối với hệ quả lên chính Đức Tin, vì tín điều Ngoài Giáo hội Công giáo không có ơn cứu độ không chỉ là điều người Công Giáo phải chấp nhận, mà trước hết là điều họ buộc phải vững tin trong lòng.
Giáo hoàng Thánh Piô X đã kết án mệnh đề Thuyết duy tân sau đây vào ngày 3 tháng 7 năm 1907 trong Sắc lệnh Lamentabili Sane:
Ý nghĩ rằng chúng ta có thể giảng việc “ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, trong khi sâu trong lòng lại tin rằng “ngoài Giáo hội vẫn có ơn cứu độ”, là suy nghĩ lạc giáo. Chân lý “chỉ người Công Giáo mới được cứu rỗi” là một chân lý do chính Thiên đàng mặc khải, mà mọi người Công Giáo phải trước hết tin trong lòng, rồi sau đó mới tuyên xưng mặt ngoài.
Chân lý ấy đã bị xé toạc khỏi tâm trí và con tim của hầu như toàn thể thế giới Công Giáo qua việc kết án Cha Leonard Feeney, người đã bảo vệ công khai và mạnh mẽ nhất cho tín điều này. Và biến cố ấy đã được cho phép xảy ra do sự thiếu sót và yếu đuối của Giáo hoàng Piô XII.
Chú thích:
[1] The Catholic Encyclopedia, Vol. 8, p. 433.
[2] Warren H. Carroll, A History of Christendom, Vol. 2 (The Building of Christendom), 1987, p. 387.
[3] Warren H. Carroll, A History of Christendom, Vol. 2 (The Building of Christendom), 1987, pp. 388-390; J.N.D. Kelly, Oxford Dictionary of Popes, Oxford University Press, 1986, pp. 116-117, 119.
[4] For example, Second Council of Nicaea (787), Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 135; and the Fourth Council of Constantinople (869-870),Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 162.
[5] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 37.
[6] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 22.
[7] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 23.
[8] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 23.
[9] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 25.
[11] Denzinger 714; Decrees of the Ecumenical Councils, Vol. 1, p. 578.
[10] Bro. Robert Mary, Father Feeney and The Truth About Salvation, p. 25.
Bài Viết Liên Quan