^
^
| Lạc giáo của Phanxicô | Lạc giáo trong Vaticanô II | Lạc giáo của Biển Đức XVI | Lạc giáo của Gioan Phaolô II | Từ điển thuật ngữ nguyên tắc | Sự thật về Sơ Lucia giả mạo | Kế hoạch hoá gia đình tự nhiên (NFP) là tội lỗi | Lòng thương xót Chúa của sơ Faustina là giả | Cửa hàng online và thông tin liên lạc |
| Các bước trở lại đạo | Nơi lãnh nhận các bí tích | Kinh Mân Côi | Không có Ơn cứu độ bên ngoài Giáo hội | Thuyết Trống toà là gì | Thánh lễ Mới không thành sự | Nghi thức truyền chức linh mục mới | E-Exchanges | ![]() |
Phán quyết đã rõ: Boston dẫn đầu trong một vụ tai tiếng hàng linh mục khổng lồ làm rung chuyển toàn nước Mỹ.
Nhà thờ Chính tòa Boston
Như tôi đã trình bày trong các phần trên, chính tại Boston mà cha Leonard Feeney, Dòng Tên, đã bị bách hại – vị linh mục duy nhất vào những năm 1950 công khai chỉ rõ và chống lại việc từi bỏ tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”. Chính tại Tổng giáo phận Boston mà Sắc lệnh 122/49 lạc giáo đã được ban hành. Cũng tại Boston, cha Feeney đã bị buộc phải im lặng và bị vạ cấm, cuối cùng dẫn đến việc ông bị “vạ tuyệt thông” vô hiệu do những kẻ lạc giáo ở Rôma tuyên bố. Và giờ đây, cũng chính tại Boston, họ đang phải gánh chịu những hậu quả như cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
“Ta sẽ trị chúng cho đã giận, cho hả cơn phẫn nộ của Ta mà trả thù và chúng sẽ biết chính Ta, Giavê, Ta đã nói theo lòng ghen của Ta khi Ta trị chúng cho đã cơn phẫn nộ của Ta.
Ta sẽ biến ngươi nên cảnh điêu tàn, nên cái ô nhục giữa các dân tộc xung quanh ngươi, trước mặt mọi người qua lại. Ngươi sẽ nên trò ô nhục và lời sỉ mạ, nên bài học, nên điều kinh rởn đối với các dân tộc xung quanh ngươi, khi Ta ra án phạt trên ngươi, trong giận dữ và phẫn nộ mà trừng trị ngươi. Chính Ta, Giavê, Ta đã phán…” (Êdêkien 5,13–16)
Boston chính là điểm khởi phát nơi vụ bê bối tình dục khổng lồ bị phanh phui, và Boston là tâm chấn của cơn “động đất” thiêng liêng ấy. Boston thực sự đã trở thành “điều nhạo báng”, “cớ sỉ nhục”, “điều kinh ngạc” trước mắt truyền thông và thế giới! Tại sao như vậy? Điều đó là khá rõ ràng đối với những ai “có mắt để thấy” (Êdêkien 5).
Dân chúng và hàng giáo sĩ Boston đã ghét bỏ, bách hại và nguyền rủa (đến độ “ra vạ tuyệt thông”) ý nghĩa chân thực của tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” cũng như vị linh mục trung thành bảo vệ tín điều ấy. Vì thế, Thiên Chúa đã để cho nhà của họ hoàn toàn trở nên hoang tàn và phó mặc cho vô vàn ma quỷ. Không nghi ngờ gì: tai tiếng trong những vùng khác của giáo phái Vaticano II giả mạo và không Công giáo quả thật cũng lan tràn khủng khiếp; nhưng Boston chắc chắn chính là tai tiếng nhất. Họ đã có được những linh mục “không theo phe Feeney” y như lòng họ mong muốn. Họ đã có được những linh mục tin vào “phép rửa bằng ước muốn” và “vô tri bất khả triệt”, đúng như họ ước ao.
Những kẻ lạc giáo tại Boston không muốn chấp nhận chân lý của Chúa Giêsu Kitô và tín điều của Người về tính tuyệt đối cần thiết của Đức Tin Công giáo và Phép Rửa để được cứu độ; vì thế, Thiên Chúa đã để họ có trọn một lũ linh mục bội giáo và đồi bại – đúng như lòng họ mong muốn.
Điều này thực sự phải khơi dậy nỗi khiếp sợ trong tâm hồn những ai – nhất là nhiều người “truyền thống” – tự xưng là chống lại tình trạng bội giáo hiện nay, nhưng lại ghét bỏ tín điều này, khinh thường và chế nhạo cha Leonard Feeney cùng những người khác trung thành nắm giữ giáo huấn Công giáo về vấn đề trên. Những người ấy làm cho chính mình trở nên ghê tởm trước mặt Thiên Chúa và là một trong những nguyên nhân chính đưa tới tình trạng bội giáo này – một tình trạng được biểu lộ rõ ràng qua các vụ bê bối kinh hoàng nơi hàng giáo sĩ Vaticanô II giả mạo.
Việc Tổng giáo phận Boston buộc phải đem thế chấp ngay chính Nhà thờ Chính tòa và dinh thự tổng giám mục vì việc lạm dụng tình dục của các linh mục mình là một dấu chỉ đầy tính biểu tượng. Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên. Nó cho thấy những ai phủ nhận tín điều Công Giáo về ơn cứu độ thì tự đánh mất chỗ đứng của mình trong Hội Thánh Chúa Kitô và hoàn toàn không còn chút quyền bính chính đáng nào. Thiên Chúa đã phán, và trong cơn thịnh nộ, Người đã thi hành án phạt của Người trên họ.
CHA FEENEY CÓ TIÊN BÁO VIỆC MẤT ĐI ĐỨC GIÁO HOÀNG KHÔNG?
Trước khi đi vào điểm này, xin nhắc lại với độc giả rằng chúng tôi không phải là “phe Feeney,” và bản thân tôi chưa hề nghe nói đến cha Leonard Feeney trước khi – chỉ dựa trên những gì đã được Giáo hội Công giáo định tín – đi đến cùng một kết luận về tính tuyệt đối cần thiết của phép Rửa bằng nước. Chúng tôi cũng không đồng ý với một số kết luận của cha Feeney về vấn đề Công Chính hóa (chúng tôi tin rằng ông đã lầm lẫn trong thiện chí ở những điểm đó).
Trong những đoạn trích sau đây từ tác phẩm Bread of Life (Bánh Sự Sống) của cha Feeney – một cuốn sách gồm các bài giảng của ông trước Vaticanô II – ông kết nối việc sau này mất đi Đức Giáo hoàng (tức là điều chúng ta đang chứng kiến với các ngụy giáo hoàng sau Vaticanô II) với việc chối bỏ tín điều “Ngoài Giáo hội Công giáo không có ơn cứu độ.”
Như tôi đã cho thấy, những kẻ lạc giáo chối bỏ tín điều này đã ăn sâu bám rễ trong các chức vụ cao cấp của Giáo hội ngay trước Vaticanô II, và họ đã giảng dạy rằng người ta có thể được cứu rỗi trong các tôn giáo giả dối. Cha Feeney dường như đã tiên báo rằng chính vì lạc giáo này mà Thiên Chúa sẽ cho phép cuộc Đại bội giáo và việc mất đi Đức Giáo hoàng xảy đến.
Cha Feeney, khi viết những dòng trên đây trước Vaticanô II, đã tiên đoán việc sau này sẽ mất đi đức Giáo hoàng – vì số lượng quá lớn những kẻ lạc giáo ngay trong cơ cấu Giáo Hội, là những kẻ phủ nhận sự cần thiết tuyệt đối của Hội Thánh cho việc cứu rỗi. Đây là một phân tích chính xác đến khó tin.
Cha Feeney cũng nhận xét rằng lạc giáo chống lại tín điều về ơn cứu độ và về sự cần thiết của Phép Rửa sẽ dẫn đến một tình trạng “Thứ Sáu Tuần Thánh mà chẳng có Thiên Chúa nào đổ Máu ra.” Chỉ cần nhìn vào các nhà thờ Novus Ordo hôm nay là đủ thấy lời ấy đã được ứng nghiệm thế nào. Trong cùng chương đó, cha Feeney viết tiếp:
Như có thể thấy trong bài viết về Phaolô VI, điều được gạch dưới trong đoạn trích trên – việc mất đi triều thiên giáo hoàng – đã thực sự xảy ra khi Ngụy giáo hoàng Phaolô VI vui vẻ trao tặng triều thiên giáo hoàng và thánh giá ngực giáo hoàng cho các đại diện Liên Hiệp Quốc, là những người sau đó đã bán nó cho một thương nhân Do Thái!
Khi Phaolô VI, một Ngụy giáo hoàng, trao đi Triều Thiên Giáo Hoàng, đó là một cử chỉ mang tính biểu tượng cho việc trao bỏ quyền bính Giáo hoàng (dù thực ra ông ta không có quyền bính ấy). Nhưng đây là một cử chỉ mang đầy tính biểu tượng: các kẻ thù của Giáo hội và những kẻ lạc giáo đã được phép thâu tóm các cơ cấu hữu hình của Giáo hội và dựng nên một giáo phái giả mạo, phi Công Giáo – tức giáo phái Vaticanô II.
Ví dụ của cha Feeney về Triều Thiên Giáo hoàng chính xác đến mức phải nói rằng chính Thiên Chúa đã đặt những lời đó trên môi ông. Nhưng điều ấy lại một lần nữa cho thấy: một khi sự cần thiết của Giáo hội bị chối bỏ thì toàn bộ phần còn lại của Đức Tin trở nên vô nghĩa.
Đó là lý do tại sao những ai cho rằng “vấn đề Thánh Lễ” là vấn đề chính yếu, là nơi trận chiến thực sự diễn ra, đã lầm lẫn. Trận chiến bắt nguồn – và xoay quanh – chính tín điều này; bởi vì một khi sự cần thiết của Đức Tin Công giáo bị chối bỏ, thì mọi điều khác đều trở thành vô nghĩa.
Khi cảnh báo về những hình phạt khủng khiếp và hậu quả trí mạng sẽ phát sinh do việc chối bỏ tín điều này, cha Feeney thực ra chỉ lập lại những lời cảnh cáo của các Giáo hoàng trước đó, chẳng hạn Đức Grêgôriô XVI.
Có một tác giả tự cho mình là “Công Giáo truyền thống” nhưng lại phủ nhận ý nghĩa chân thực của tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”; ông ta tuyên bố rằng giáo thuyết về “vô tri bất khả triệt” không phải là điều đã giết chết công cuộc truyền giáo, mà là giáo huấn của Vaticanô II về đại kết và tự do tôn giáo. Điều mà tên lạc giáo này không nhận ra là chính lạc thuyết “ơn cứu độ cho người không Công giáo nhờ vô tri bất khả triệt đã sinh ra giáo lý sai lạc về tự do tôn giáo và tự do lương tâm, như Đức Grêgôriô XVI chỉ rõ bên trên.
Các văn kiện lạc giáo trong Vaticanô II về tự do tôn giáo, đại kết và tự do lương tâm không phải là khởi điểm của lạc giáo, nhưng là hệ quả tất yếu của việc phủ nhận ý nghĩa chân thật của tín điều về ơn cứu độ.
Nếu như Giáo hoàng Grêgôriô XVI mới chỉ cảnh báo về điều ấy, thì cha Feeney đã sống ngay trong những giai đoạn khởi đầu của sự ứng nghiệm; và những giai đoạn sau đó đã lên tới tột đỉnh, một phần được biểu lộ qua vụ bê bối trong hàng linh mục khổng lồ vừa được trình bày ở trên trong giáo phái Vaticanô II. Cha Feeney chính là người mà Thiên Chúa dùng để loan báo cho thế giới – trước cuộc cách mạng Vaticanô II – rằng vấn đề này là trung tâm; và nếu tiếp tục bị phủ nhận thì tận cùng sẽ đến, và cuộc Đại Bội Giáo sẽ xảy ra. Cha Feeney đã thêm Lời Tựa sau đây cho lần in năm 1974 cho cuốn Bread of Life (Bánh Sự Sống).
Cha Leonard Feeney, S.J., Bread of Life, LỜI TỰA CHO LẦN TÁI BẢN NĂM 1974:
“Tình trạng đức tin sa sút tại nước Mỹ và trên toàn thế giới đang làm tan nát trái tim những người Công giáo chân chính. Các cửa hỏa ngục hầu như đã thắng thế chống lại Giáo hội. Chính vì người Công giáo đã buông bỏ giáo huấn của Giáo hội về ơn cứu độ mà mọi thứ khác đang bị tước đi khỏi chúng ta. Đây là nguyên nhân làm cho thế giới lâm bệnh, và điều đó lại càng đúng hơn nữa hôm nay so với khi tôi nói điều ấy cách đây hai mươi lăm năm.
“Thông điệp của tôi ngày nay hoàn toàn giống hệt như điều tôi vẫn công bố suốt một phần tư thế kỷ qua. Nó thuộc về giáo huấn bất khả ngộ vĩnh hằng của Giáo hội Công giáo La Mã, mà đối với Giáo hội ấy, Chúa chúng ta đã hứa rằng các cửa hỏa ngục sẽ không bao giờ thắng được.”
Năm 1974, cha Feeney nhìn thấy mọi sự đang lần lượt bị tước khỏi người Công Giáo, chủ yếu vì họ đã phủ nhận tín điều “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” và không còn quan tâm đến các chân lý đức tin do chính Thiên Chúa mặc khải. Ngày nay, chúng ta thấy điều ấy không chỉ trong giáo phái Vaticanô II mà còn ngay trong phong trào Công Giáo truyền thống. Rất nhiều người đi tham dự Thánh Lễ Latin hiện nay chẳng mấy bận tâm việc linh mục của họ thực sự tin gì; họ chỉ quan tâm là ông ta dâng một Thánh Lễ thành sự, chứ không phải là nghi thức Novus Ordo không thành sự. Họ không bận tâm nếu linh mục ấy tin rằng những người Do Thái cố chấp khước từ Chúa Giêsu Kitô vẫn có thể được cứu rỗi, trong khi chính họ lại ra vẻ có một lòng sùng kính rất lớn đối với Thánh Lễ mà Chúa Kitô đã thiết lập.
Những người như thế đang sống trong tình trạng bất tuân nặng nề đối với chân lý của Thiên Chúa, và hy lễ họ tham dự trong Thánh Lễ không sinh hoa trái cho họ, vì họ đang nổi loạn chống lại Lời Chúa đã được mặc khải cách thiêng liêng.
1 Samuel 15,22-23: “Ông Samuel nói: Đức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ, như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu.Phản nghịch cũng có tội như bói toán, Ngoan cố là tội ác giống như thờ ngẫu tượng… Bởi vì ngài đã gạt bỏ lời của Đức Chúa, nên Người đã gạt bỏ ngài…”
Đoạn Thánh Kinh này không nói đến việc vâng phục một thứ “quyền bính” hữu danh vô thực trong Giáo hội, nhưng nói đến việc vâng phục chính Lời Thiên Chúa – tức là Đức Tin vào Lời mặc khải của Người.
Lời cảnh cáo khủng khiếp trên đây trong 1 Samuel 15 được ngôn sứ Samuel trao cho vua Sa-un, người đã dâng hy lễ trái nghịch trực tiếp với Lời Thiên Chúa. Sa-un đã cố gắng làm đẹp lòng Chúa bằng hy lễ của mình, trong khi đồng thời lại công khai vi phạm chính Lời Chúa đã phán. Bởi thế, hy lễ của vua Sa-un hoàn toàn bị Thiên Chúa khước từ, và bản thân Saun cũng bị Thiên Chúa loại bỏ.
Những lời mà Samuel nói với vua Sa-un có thể được lặp lại với đám đông những “người Công Giáo” ngày nay, những kẻ khước từ tiếng nói của Thiên Chúa (tức là tín điều được mặc khải rằng “ngoài Giáo hội Công giáo không có ơn cứu độ”). Vì họ không chấp nhận Lời của Người trong vấn đề này, mà lại tưởng rằng mình có thể làm đẹp lòng Chúa bằng cách dâng hy lễ tại Thánh Lễ Latin truyền thống, nên hy lễ họ tham dự tại Thánh Lễ Latin truyền thống sẽ không sinh ích cho họ và sẽ bị Thiên Chúa khước từ. Vì họ khước từ “tiếng nói của Đức Chúa” – tức ý nghĩa chân thực của tín điều “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ” – nên Thiên Chúa khước từ mọi hy lễ và lễ vật của họ.
Chính vì lý do này mà Thiên Chúa đã để cho các nhà thờ, chủng viện, trường học Công giáo bị tước khỏi tay chúng ta và rơi vào tay một giáo phái giả, phi Công giáo (giáo phái Vaticanô II/Novus Ordo), với những linh mục bội giáo, đồi bại, một thứ “Thánh Lễ” giả (Thánh lễ Mới), và một ngụy giáo hoàng chối đạo – người đứng đầu thành Vatican xem mọi tôn giáo đều chân thật; tuyên bố rằng người Do Thái không cần trở lại với Đức Kitô mà vẫn được cứu; rằng các giáo phái Đông phương ly khai không cần phải hoán cải; rằng Công đồng Trentô không còn lên án người Luther nữa; rằng Hồi giáo phải được bảo vệ; v.v…
Thiên Chúa đã loại bỏ đám đông những kẻ tự xưng là “Công Giáo” vì chính họ đã loại bỏ và lên án chân lý của Người về ơn cứu độ; và Người trao phó tài sản của họ cho cả một đạo binh quỷ dữ, cũng như Người đã loại bỏ Saun khỏi ngôi vua.
Chú thích:
[1] Fr. Mark Massa, Catholics and American Culture, p. 31.
[2] The Papal Encyclicals, Vol. 1 (1740-1878), pp. 239.
Bài Viết Liên Quan